Mục tiêu Đề án “Phát triển giáo dục và đào tạo tỉnh Phú Thọ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” phát triển giáo dục và đào tạo tỉnh Phú Thọ theo hướng đồng bộ, chất lượng, hiệu quả và bền vững, bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội. Quy hoạch, sắp xếp cơ sở giáo dục theo hướng tinh gọn, hiệu quả; nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ, nâng cao năng lực ngoại ngữ; lấy chất lượng giáo dục thực chất và kết quả đầu ra của người học làm tiêu chí đánh giá chủ yếu. Đến năm 2030, chất lượng giáo dục đại trà và mũi nhọn tỉnh nằm trong nhóm các địa phương dẫn đầu cả nước; khẳng định vai trò trung tâm giáo dục, đào tạo của vùng Trung du và miền núi phía Bắc; tầm nhìn đến năm 2045, chất lượng giáo dục và đào tạo tiệm cận trình độ tiên tiến của khu vực và quốc tế.
Mục tiêu cụ thể đến năm 2030
Đối với giáo dục mầm non: tỷ lệ huy động trẻ đến trường đạt 42% đối với trẻ nhà trẻ, 99% đối với trẻ mẫu giáo; 100% trẻ em 5 tuổi ra lớp, tiếp tục duy trì, củng cố và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3–5 tuổi. Phấn đấu 99,5% trẻ em mầm non được học 2 buổi/ngày, nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục, bảo đảm trẻ em được phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ; hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách và chuẩn bị tốt các điều kiện sẵn sàng vào học lớp 1; có 100% cơ sở giáo dục mầm non tại vùng thuận lợi, bảo đảm điều kiện triển khai thực hiện cho trẻ em được làm quen với tiếng Anh. Đồng thời, xây dựng đội ngũ giáo viên mầm non đủ về số lượng, chuẩn hóa về trình độ; phấn đấu tỷ lệ trường mầm non dân lập, tư thục đạt 30%, số trẻ em theo học tại các cơ sở ngoài công lập đạt 35%; bảo đảm 100% phòng học kiên cố, 95% trở lên trường đạt chuẩn quốc gia.
Về giáo dục phổ thông: bảo đảm 100% trẻ em 6 tuổi vào lớp 1; duy trì tỷ lệ học sinh đi học đúng độ tuổi đạt tối thiểu 99,5% ở tiểu học và 98% bậc trung học cơ sở; tỷ lệ chuyển cấp từ tiểu học lên trung học cơ sở đạt 99,5%, từ trung học cơ sở lên trung học phổ thông và các trình độ khác đạt 95. Phấn đấu 60% trở lên học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông vào học đại học. Chỉ số giáo dục đóng góp vào chỉ số phát triển con người (HDI) đạt trên 0,8, trong đó chỉ số bất bình đẳng giáo dục giảm xuống dưới 10%.
Từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, nâng cao năng lực sử dụng tiếng Anh cho người học theo lộ trình phù hợp; bảo đảm 100% học sinh phổ thông được học tiếng Anh theo chương trình quy định; xây dựng 55 trường dạy song ngữ từ bậc tiểu học đến trung học phổ thông.
Phát triển đội ngũ giáo viên phổ thông 100% đạt chuẩn trình độ đào tạo, trong đó ít nhất 35% giáo viên đạt trình độ trên chuẩn; 100% cán bộ quản lý giáo dục được bồi dưỡng đạt chuẩn năng lực quản lý, trong đó trên 50% được bồi dưỡng quản trị nhà trường hiện đại; 100% cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên được bồi dưỡng kỹ năng số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo; thành lập 01 trường trung học phổ thông công lập tại khu vực Việt Trì (cũ); xây dựng các trường THPT chuyên: Vĩnh Phúc, Hùng Vương, Hoàng Văn Thụ thành các trường trọng điểm chất lượng cao của tỉnh và cả nước.
Bảo đảm 100% phòng học được kiên cố; ít nhất 70% cơ sở giáo dục phổ thông được trang bị phòng học, thiết bị dạy học số, hình thành kho học liệu số dùng chung; 100% cơ sở giáo dục sử dụng hệ thống quản lý và hồ sơ điện tử; trên 95% trường học các cấp đạt chuẩn quốc gia, trong đó ít nhất 30% đạt chuẩn mức độ 2.
Đối với giáo dục thường xuyên: phấn đấu 100% học viên học chương trình giáo dục thường xuyên được học môn Tiếng Anh theo chương trình giáo dục phổ thông; tỷ lệ người biết chữ mức độ 1 trong độ tuổi 15- 60 đạt 99,15%, trong đó, vùng đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đạt 98,8%; duy trì vững chắc chuẩn xóa mù chữ mức độ 2.
Trong giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học: mạng lưới cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp được sắp xếp hợp lý và tăng cường đầu tư nâng cấp; phấn đấu 100% cơ sở giáo dục đại học và ít nhất 80% cơ sở giáo dục nghề nghiệp do tỉnh quản lý đạt chuẩn quốc gia, 20% cơ sở được đầu tư hiện đại tương đương các nước phát triển ở châu Á; tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm đạt trên 90%, người trong độ tuổi theo học các trình độ sau trung học phổ thông đạt 50%; tỷ lệ người lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên đạt 24%.
Bảo đảm 100% giáo viên đạt chuẩn trình độ đào tạo theo Luật Giáo dục nghề nghiệp, trong đó ít nhất 40% giảng viên có trình độ thạc sĩ trở lên; tỷ lệ giảng viên đại học có trình độ tiến sĩ đạt ít nhất 35%, có tối thiểu 10 phó giáo sư; ít nhất 90% sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp.
Hình thành 03 cơ sở giáo dục nghề nghiệp trọng điểm tại các khu vực: Vĩnh Phúc, Phú Thọ và Hòa Bình (cũ), trong đó có tối thiểu 01 trường cao đẳng nghề đạt tiêu chí trường cao đẳng nghề trọng điểm quốc gia. Phấn đấu hình thành khu, làng đại học gắn với đô thị tại khu vực Vĩnh Yên theo quy hoạch, thu hút các cơ sở giáo dục đại học và doanh nghiệp có uy tín tham gia đầu tư.
Mục tiêu đến năm 2035: 100% giáo viên đạt chuẩn, trong đó mầm non ít nhất 95% trên chuẩn, phổ thông ít nhất 40% trên chuẩn; có 100% trường công lập đạt chuẩn quốc gia, trong đó trên 40% đạt mức độ 2; trên 99,5% trẻ mầm non học 2 buổi/ngày; ít nhất 95% học sinh sau trung học cơ sở tiếp tục học trung học phổ thông hoặc tương đương; ít nhất 65% học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông vào đại học; 100% cơ sở giáo dục nghề nghiệp đạt kiểm định chất lượng và liên kết doanh nghiệp; hoàn thành phổ cập trung học phổ thông và tương đương.
Tầm nhìn đến năm 2045: hệ thống giáo dục và đào tạo của tỉnh hiện đại, công bằng và chất lượng, tiệm cận trình độ tiên tiến của khu vực và quốc tế, có vị thế thuộc nhóm địa phương dẫn đầu cả nước. Chỉ số giáo dục đóng góp vào chỉ số phát triển con người (HDI) đạt trên 0,9. Toàn tỉnh có 03 trường chuyên tiệm cận quốc tế; 30% số trường phổ thông đạt trình độ tiên tiến khu vực châu Á; 100% cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập đạt chuẩn quốc gia; Tiếng Anh được phổ biến như ngôn ngữ thứ hai. Mọi người dân có cơ hội học tập suốt đời, nâng cao trình độ, kỹ năng và phát triển tối đa tiềm năng cá nhân; nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tài khoa học, công nghệ trở thành động lực và lợi thế cạnh tranh của tỉnh.
Lộ trình triển khai thực hiện Đề án
Giai đoạn 2025 – 2026
Hoàn thành việc xây dựng, trình phê duyệt Nghị quyết của Tỉnh ủy về “Phát triển giáo dục và đào tạo tỉnh Phú Thọ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2030”.
Tổ chức quán triệt, phổ biến sâu rộng trong toàn ngành; thống kê, đánh giá hiện trạng mạng lưới cơ sở giáo dục, nhu cầu và thực trạng cơ sở vật chất làm căn cứ quy hoạch, cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới.
Giai đoạn 2026 - 2027
Đầu tư cải tạo, nâng cấp và xây mới các trường học, bảo đảm đồng bộ,hiện đại, trong đó ưu tiên các trường trọng điểm, trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập; thay thế dứt điểm các công trình xuống cấp trước năm 2027.
Xây dựng không gian đọc sách, rèn luyện và trải nghiệm cho học sinh; phát triển hệ thống thư viện mở, thư viện số, thư viện xanh.
Trang bị đầy đủ thiết bị dạy học tối thiểu phục vụ Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 ở tất cả các cấp học.
Đầu tư, trang bị hạ tầng số đối với các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh bảo đảm đường truyền kết nối băng thông rộng, phủ sóng 5G đến 100% cơ sở giáo dục; xây dựng cơ sở dữ liệu ngành giáo dục tỉnh bảo đảm liên thông, đồng bộ với dữ liệu quốc gia; triển khai các hệ sinh thái giáo dục thông minh bảo đảm 100% cơ sở giáo dục triển khai các phần mềm quản trị, tổ chức dạy, học trên nền tảng số; 100% cơ sở giáo dục triển khai các dịch vụ trực tuyến như đăng kí tuyển sinh đầu cấp, thanh toán không dùng tiền mặt; 100% giáo viên, học sinh được bồi dưỡng năng lực số, kiến thức và ứng dụng trí tuệ nhân tạo AI trong dạy, học.
Tuyển dụng, bổ sung giáo viên đủ số lượng và cơ cấu vào năm 2026.
Xây dựng nghị quyết đặc thù thu hút đầu tư xây dựng cơ sở giáo dục chất lượng cao ngoài công lập.
Giai đoạn 2028 - 2030
Hình thành hệ thống trường ngoài công lập chất lượng cao, trường liên cấp quốc tế, trung tâm giáo dục kỹ năng, đáp ứng nhu cầu học tập của Nhân dân.
Bảo đảm trên 95% trường đạt chuẩn quốc gia; thí điểm mỗi xã/phường tối thiểu 01 mô hình lớp học thông minh, trường học số; quy hoạch và xây dựng đồng bộ hạ tầng trường phổ thông, trang thiết bị hiện đại, tiệm cận mô hình tiên tiến trong khu vực và quốc tế.
Bảo đảm hạ tầng công nghệ số tiên tiến, hiện đại, dung lượng siêu lớn, băng thông siêu rộng; quản lý, kết nối và vận hành thông suốt toàn ngành Giáo dục trên môi trường số; khai thác và sử dụng an toàn, hiệu quả tài nguyên số, dữ liệu số; triển khai hiệu quả hệ sinh thái giáo dục thông minh, ứng dụng trí tuệ nhân tạo AI trong quản lí, quản trị và tổ chức dạy, học.
Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên, đạt chuẩn và trên chuẩn theo Luật Giáo dục 2019; nâng cao năng lực số, năng lực hội nhập quốc tế, phương pháp giảng dạy hiện đại gắn với đổi mới sáng tạo.
Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 3-5 tuổi; thực hiện giáo dục bắt buộc 9 năm; mở rộng cơ hội học tập suốt đời cho mọi đối tượng.
Định hướng đến năm 2035
Xây dựng tỉnh Phú Thọ trở thành trung tâm giáo dục chất lượng cao vùng Trung du và miền núi phía Bắc, có một số cơ sở đạt trình độ ngang tầm khu vực và quốc tế.
Hoàn thiện hệ thống trường chuyên, trường trọng điểm, trường quốc tế và các mô hình hợp tác đào tạo-nghiên cứu- đổi mới sáng tạo với các cơ sở đại học, viện nghiên cứu trong và ngoài nước.
Phát triển mạnh mẽ giáo dục số, giáo dục mở, học tập suốt đời; phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 2 tuổi; bảo đảm 100% học sinh được tiếp cận chương trình học tập cá thể hóa theo năng lực và nhu cầu.
Hình thành đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục có trình độ cao, ngang tầm khu vực, tạo nguồn chuyên gia, nhà khoa học trong lĩnh vực giáo dục.
Đưa Phú Thọ vào nhóm địa phương dẫn đầu cả nước về giáo dục đại trà và mũi nhọn; có học sinh đạt giải quốc tế ở nhiều lĩnh vực, hình thành thương hiệu giáo dục Phú Thọ trên bản đồ khu vực.
Quyết định có hiệu lực kể từ 06/4/2026.
Theo Cổng Thông tin tỉnh Phú Thọ./.