NỘI DUNG TUYÊN TRUYỀN
Kết quả phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm
và một số quy định, chính sách mới của Trung ương, của tỉnh
I. Kết quả phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2026
Trong 6 tháng đầu năm 2026, trong bối cảnh có nhiều khó khăn, thách thức, song với sự quyết tâm, nỗ lực của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Phú Thọ tiếp tục ổn định và phát triển. Kinh tế đạt mức tăng trưởng khá, đạt kịch bản đề ra và cao hơn so với mức tăng cùng kỳ năm trước. Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng trưởng khá, tiếp tục là động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Các công trình, dự án trọng điểm được quan tâm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc. Phát triển khoa học công nghệ, chuyển đổi số được đặc biệt quan tâm. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội tiếp tục được quan tâm; quốc phòng, an ninh được giữ vững; đời sống Nhân dân cơ bản ổn định.
1. Giữ vững ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
1.1. Kinh tế của tỉnh tăng trưởng khá, dự kiến tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) 6 tháng năm 2026 tăng khoảng 10 - 10,5% so với cùng kỳ năm 2025, cao hơn chỉ tiêu Chính phủ giao tại Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 08/01/2026 (trên 10%), đạt mục tiêu kịch bản điều chỉnh đề ra tại Quyết định số 1341/QĐ-UBND ngày 29/4/2026 của UBND tỉnh. Trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng khoảng 3,2 - 3,5%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng khoảng 14,4 - 15,1%, riêng công nghiệp tăng khoảng 14,8 - 15,6%; khu vực dịch vụ tăng khoảng 8,3 - 8,7%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng khoảng 3,4 - 3,6%.
1.2. Thu ngân sách trên địa bàn tăng 16,5% so với cùng kỳ năm trước, tăng 22,4% so với kịch bản và đạt 58,7% kế hoạch năm 2026. Trong đó: Thu nội địa ước đạt 30,9 nghìn tỷ đồng, tăng 18,7% so với cùng kỳ năm 2025, tăng 24,6% so với kịch bản và đạt 59,8% kế hoạch năm 2026. Tổng thu nội địa đạt khá, chủ yếu đóng góp từ nguồn thu từ khu vực doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đạt gần 13,31 nghìn tỷ đồng, tăng 50,5% so với cùng kỳ (đạt 78,3% kế hoạch năm); thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 5,9 nghìn tỷ đồng, tăng 61% so với cùng kỳ (đạt 83,7% kế hoạch năm); thu từ doanh nghiệp nhà nước đạt 1,1 nghìn tỷ đồng, tăng 25,1% so với cùng kỳ (đạt 51,7% kế hoạch năm). Thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước thực hiện 3.174 tỷ đồng/6.350 tỷ đồng dự toán, đạt 50% dự toán, giảm 1,8% so với cùng kỳ năm 2025. Các khoản chi ngân sách được các cấp, các ngành thực hiện chủ động, chặt chẽ, tiết kiệm.
1.3. Các hoạt động xúc tiến đầu tư được triển khai đa dạng bằng nhiều hình thức, thu hút vốn đầu tư và phát triển doanh nghiệp tăng cao so với cùng kỳ. Tỉnh đã tổ chức thành công một số hội nghị xúc tiến đầu tư tại nước ngoài và trong nước; tổ chức tọa đàm, tiếp và làm việc với nhiều nhà đầu tư, doanh nghiệp từ nhiều quốc gia đến tìm hiểu môi trường đầu tư tại tỉnh. Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-CP của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2026 được triển khai tích cực. Cơ chế "Luồng xanh 24 giờ" và "Luồng xanh 50%" trong giải quyết thủ tục hành chính được thí điểm triển khai. Công bố rộng rãi danh mục 175 dự án trọng điểm kêu gọi đầu tư giai đoạn 2026 - 2030. Chương trình Cà phê doanh nhân được tổ chức định kỳ vào thứ Sáu hằng tuần. Các nhiệm vụ, giải pháp thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị và các chương trình, kế hoạch về phát triển kinh tế tư nhân của Tỉnh ủy, UBND tỉnh tiếp tục được các cấp, các ngành tổ chức thực hiện tốt.
Thu hút đầu tư đạt kết quả cao với tổng vốn FDI đạt khoảng 1,77 tỷ USD, tăng gấp 4,86 lần so với cùng kỳ, đạt 110,2% kế hoạch năm; vốn đầu tư trong nước đạt trên 18,7 nghìn tỷ đồng. Toàn tỉnh thành lập mới 2.800 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký khoảng 30 nghìn tỷ đồng, tăng 29,1% so với cùng kỳ; ngoài ra có 665 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động. Trong kỳ báo cáo, có một số dự án lớn được khởi công mới như: Khu công nghiệp Phúc Yên; Nhà máy sản xuất, chế tạo vi mạch điện tử Meiko Yên Quang; triển khai Dự án Khu công nghiệp Đoan Hùng...Thu hút đầu tư đạt kết quả cao với tổng vốn FDI đạt khoảng 1,77 tỷ USD, tăng gấp 4,86 lần cùng kỳ, đạt 110,2% kế hoạch năm; vốn đầu tư trong nước đạt trên 18,7 nghìn tỷ đồng. Toàn tỉnh thành lập mới 2.800 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký khoảng 30 nghìn tỷ đồng, tăng 29,1% so với cùng kỳ; ngoài ra có 665 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động. Trong kỳ báo cáo, có một số dự án lớn được khởi công mới như: Khu công nghiệp Phúc Yên; Nhà máy sản xuất, chế tạo vi mạch điện tử Meiko Yên Quang; triển khai dự án Khu công nghiệp Đoan Hùng...
1.4. Tình hình sản xuất, kinh doanh các ngành, lĩnh vực chủ yếu
a) Sản xuất công nghiệp tăng trưởng khá, tiếp tục là động lực chính cho tăng trưởng kinh tế của tỉnh. 5 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp IIP tăng 24,69% so với cùng kỳ; trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 25,63% (thuộc Top các địa phương có chỉ số sản xuất của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo năm tháng đầu năm 2026 tăng cao so với cùng kỳ năm trước). Ước 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số IIP tăng 25,7% so với cùng kỳ; hầu hết các sản phẩm chủ lực đều có sản lượng/doanh thu tăng trưởng khá so cùng kỳ như: Sản lượng máy tính xách tay (kể cả notebook và subnotebook) đạt 19,19 triệu sản phẩm, tăng 45,9% so với cùng kỳ năm 2025, đạt 46% kế hoạch năm; dịch vụ sản xuất linh kiện điện tử đạt 176,58 nghìn tỷ đồng, tăng 33,5% so cùng kỳ so với cùng kỳ năm 2025, đạt 48,2% kế hoạch năm; xe ô tô chở dưới 10 người đạt 20,32 nghìn chiếc, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm 2025, đạt 47% kế hoạch năm; xe máy các loại đạt 915,53 nghìn chiếc, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm 2025, đạt 51,5% kế hoạch năm; điện sản xuất đạt 4,32 tỷ KWh, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm 2025, đạt 39,7% kế hoạch năm; gạch ốp lát đạt 96,9 triệu m2, tăng 25,1% so với cùng kỳ năm 2025, đạt 49,5% kế hoạch năm; xi măng đạt 2,21 triệu tấn tăng 24% so với cùng kỳ năm 2025, đạt 59,7% kế hoạch năm…
b) Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản trong điều kiện thời tiết cơ bản thuận lợi; chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi được đẩy mạnh; các vùng sản xuất tập trung và cấp mã số vùng trồng tiếp tục được phát triển. Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt 169 nghìn ha, giảm 0,9% so với cùng kỳ, song năng suất đa số cây trồng vụ Đông Xuân đều tăng so cùng kỳ, trong đó năng suất lúa đạt 62,9 tạ/ha, tăng 1,5%, ngô đạt 50,8 tạ/ha, tăng 1,6%; rau xanh các loại đạt 185,5 tạ/ha, tăng 1,4%… Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 693 nghìn tấn, tăng 0,7% (tương đương tăng 4,77 nghìn tấn). Sản lượng một số cây lâu năm như chè, bưởi, cam, chuối... đều tăng so với cùng kỳ. Quy mô tổng đàn trâu, bò có xu hướng giảm nhưng quy mô đàn lợn, gia cầm và sản lượng thịt hơi, trứng, sữa… tiếp tục tăng so với cùng kỳ. Sản xuất thủy sản và lâm nghiệp được chú trọng; sản lượng khai thác gỗ, chăn nuôi thủy sản tăng so cùng kỳ năm trước, tỷ lệ che phủ rừng đạt 43,37%. Chương trình xây dựng nông thôn mới và thúc đẩy các hình thức liên kết, phát triển làng nghề thường xuyên được quan tâm. Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) tiếp tục đóng góp tích cực, góp thúc đẩy phát triển sản xuất theo hướng hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng và xây dựng thương hiệu sản phẩm địa phương.
c) Thương mại, dịch vụ đáp ứng tốt nhu cầu. Hàng hóa trên địa bàn phong phú, đa dạng. Nhiều chương trình kích cầu tiêu dùng được tổ chức. Thương mại điện tử từng bước trở thành kênh phân phối chủ yếu. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 77,5 nghìn tỷ đồng, tăng 14,6% so với cùng kỳ. UBND tỉnh đã ch đạo, ban hành phương án đảm bảo cung ứng xăng dầu trong mọi tình huống trước diễn biến nguồn cung giảm và giá tăng cao, trên cơ sở đó các doanh nghiệp cung ứng đã chủ động cân đối, điều tiết nguồn hàng, đáp ứng đủ nhu cầu cho sản xuất và tiêu dùng. Giá cả thị trường ổn định, không xảy ra hiện tượng khan hiếm hàng hóa hoặc tăng giá đột biến; CPI bình quân 5 tháng tăng 4,12% so với cùng kỳ năm trước. Kinh doanh vận tải phát triển khá, tổng doanh thu ước đạt 11,3 nghìn tỷ đồng, tăng 16,2% so với cùng kỳ. Tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt 22,04 tỷ USD, đạt 55,8% kế hoạch năm, nhập khẩu ước đạt 26,08 tỷ USD, đạt 67,7% kế hoạch năm. Các hoạt động du lịch diễn ra sôi động, tổng lượt khách du lịch ước đạt hơn 10,54 triệu, tăng 13,3% so với cùng kỳ, đạt 70,2% kế hoạch năm; tổng doanh thu du lịch đạt gần 10,76 nghìn tỷ đồng, tăng 10,9% so với cùng kỳ, đạt 66% kế hoạch năm.
d) Tín dụng đáp ứng tốt nhu cầu cho phát triển. Các tổ chức tín dụng đã tích cực triển khai nhiều giải pháp huy động vốn, bảo đảm khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế. Ước đến cuối tháng 6/2026 tổng nguồn vốn tín dụng huy động đạt 339,8 nghìn tỷ đồng, tăng 4,34% so với cuối năm 2025 và tăng 10,87% so với cùng kỳ năm trước. Nguồn vốn tín dụng tập trung vào hoạt động sản xuất kinh doanh, tiêu dùng và đầu tư; tổng dư nợ tín dụng ước đạt 391,3 nghìn tỷ đồng, tăng 6,2% so với cuối năm 2025 và tăng 18,93% so với cùng kỳ năm trước. An toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng trên địa bàn cơ bản được kiểm soát tốt; nợ xấu chiếm 0,65% tổng dư nợ. Các hoạt động kết nối ngân hàng- doanh nghiệp, chuyển đổi số, thanh toán không dùng tiền mặt,.. tiếp tục được triển khai tốt giúp tăng khả năng tiếp cận tín dụng của người dân, doanh nghiệp. Hoạt động ngoại hối, kinh doanh vàng được quản lý, giám sát chặt chẽ, thực hiện đúng quy định, đáp ứng nhu cầu giao dịch hợp pháp của doanh nghiệp và người dân, đồng thời duy trì môi trường tài chính - ngân hàng ổn định.
1.5. Quy hoạch được tổ chức lập theo quy định, nguồn vốn đầu tư công được tập trung giải ngân, kết cấu hạ tầng và nhà ở xã hội tiếp tục được quan tâm đầu tư
a) Công tác lập, quản lý quy hoạch được chú trọng, UBND tỉnh đã chỉ đạo rà soát để điều chỉnh hệ thống quy hoạch của tỉnh đảm bảo phù hợp với quy định hiện hành và tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp; đồng thời, ban hành quy định quản lý quy hoạch đô thị và nông thôn, kiến trúc trên địa bàn tỉnh. 6 tháng đầu năm, tỉnh đã phê duyệt 15 đồ án quy hoạch, 31 nhiệm vụ lập quy hoạch, chấp thuận 42 vị trí địa điểm thực hiện các công trình xây dựng; xem xét chủ trương điều chỉnh 14 đồ án quy hoạch; cho ý kiến 118 đồ án quy hoạch chi tiết và điều chỉnh quy hoạch chung và 49 nhiệm vụ quy hoạch các xã; chỉ đạo lập đề cương, nhiệm vụ quy hoạch trên tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng; điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Việt Trì đến năm 2040; lập đề cương, dự toán xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quản lý quy hoạch và phát triển đô thị tỉnh Phú Thọ đến năm 2030 và phát triển hệ thống sau sáp nhập tỉnh GIS (hệ thống thông tin địa lý). Phê duyệt 7 nhiệm vụ quy hoạch chung các xã, đồng ý chủ trương lập quy hoạch 55 xã và thẩm định 17 đồ án quy hoạch.
b) Kế hoạch đầu tư công năm 2026 được UBND tỉnh giao cho các sở, ban, ngành và UBND các xã, phường, các Ban quản lý dự án, các chủ đầu tư thực hiện với tổng số vốn là 21.934,94 tỷ đồng. Các cấp, các ngành, các địa phương đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo sát sao, kịp thời, quyết liệt và đồng bộ nhiều nhiệm vụ, giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc nhất là về bồi thường, giải phóng mặt bằng, nguyên vật liệu, bãi đổ thải, giá vật liệu xây dựng... nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công. Đến ngày 12/6/2026 khối lượng giải ngân vốn đầu tư công đạt 4.205 tỷ đồng tương đương 21,2% kế hoạch HĐND tỉnh giao và đạt 23,7% kế hoạch Thủ tướng giao. Ước 6 tháng đầu năm, khối lượng giải ngân vốn đầu tư công đạt 5.549,5 tỷ đồng, đạt 31,2% so với số vốn Thủ tướng giao.
c) Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tiếp tục được quan tâm đầu tư. Tiến độ triển khai các dự án, nhất là các dự án trọng điểm, dự án kết nối các KCN, CCN, dự án kết nối liên vùng được chú trọng và chỉ đạo quyết liệt; thủ tục đầu tư các dự án giao thông được tích cực triển khai. Hạ tầng khu, cụm công nghiệp được đẩy mạnh, UBND tỉnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư đối với 03 KCN (KCN Đoan Hùng, KCN Phù Ninh, KCN Trung Hà II); xem xét chấp thuận chủ trương 12 KCN; phê duyệt và công bố rộng rãi 08 đồ án QHPK xây dựng tỷ lệ 1/2000 đối với 08 KCN; khởi công xây dựng 02 KCN; đồng thời xem xét thành lập mới 6 cụm công nghiệp, điều chỉnh quyết định thành lập 5 cụm công nghiệp và bãi bỏ quyết định thành lập 03 cụm công nghiệp không còn phù hợp. Lũy kế đến nay trên địa bàn tỉnh đã thành lập 31 khu công nghiệp và 66 cụm công nghiệp.
d) Nhà ở xã hội tiếp tục được quan tâm phát triển. 6 tháng đầu năm 2026 tỉnh đã bổ sung thêm 384 căn hộ đáp ứng điều kiện đưa vào kinh doanh mới so với thời điểm quý IV/2025; chấp thuận chủ trương đầu tư, đồng thời giao chủ đầu tư đối với 06 dự án nhà ở xã hội và đang tiếp tục xem xét để chấp thuận chủ đầu tư đối với 04 dự án nhà ở xã hội độc lập khác (trên địa bàn tỉnh đang triển khai thi công xây dựng 16 dự án, với tổng quy mô 13.231 căn nhà ở xã hội).
2. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội
2.1. Các hoạt động văn hóa, thông tin, thể thao được tổ chức phong phú, đa dạng. Nhiều kế hoạch bảo tồn phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh được ban hành. Triển khai xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ đầu tư, tu bổ, tôn tạo, phục hồi và phát huy giá trị các di tích được xếp hạng. Thẩm định hồ sơ khoa học đề nghị xếp hạng 01 di tích quốc gia, 03 di tích cấp tỉnh và xây dựng hồ sơ đề nghị xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt Chùa Tiên, xếp hạng di tích cấp tỉnh đối với 05 di tích. Tổ chức lập Quy hoạch các di tích quốc gia đặc biệt Tây Thiên, Hang Xóm Trại và Mái đá Lành Vành. Hoàn thiện hồ sơ đề nghị đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia đối với 02 di sản và xây dựng hồ sơ khoa học đề nghị đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia đối với di sản Lễ hội đánh cá suối truyền thống của người Mường, xã Toàn Thắng. Các hoạt động văn hóa và các lễ hội được tổ chức trang trọng, nghiêm túc, thống nhất, bảo đảm an toàn, lành mạnh, phù hợp với thuần phong mỹ tục và bản sắc văn hóa dân tộc. Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương, Tuần Văn hóa - Du lịch Đất Tổ và các sự kiện văn hóa lớn của tỉnh được tổ chức thành công. Hoạt động tuyên truyền các sự kiện lớn của đất nước và địa phương được thực hiện hiệu quả nhất là tuyên truyền chào mừng thành công Đại hội XIV của Đảng và cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI và Đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Nhiều chương trình biểu diễn văn hóa văn nghệ được tổ chức và cử nhiều đoàn tham gia các sự kiện góp phần quảng bá các nét đẹp trong truyền thống của nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Cuộc thi sáng tác Biểu trưng (logo) tỉnh Phú Thọ được phát động rộng rãi. Hoạt động thông tin, truyền thông, báo chí được chú trọng, thường xuyên rà soát, kịp thời phát hiện, xử lý thông tin xấu độc, sai sự thật. Phong trào thể dục, thể thao quần chúng và huấn luyện thể thao thành tích cao tiếp tục được duy trì và giành nhiều thành tích nổi bật. Nhiều giải thể thao quốc gia và quốc tế đã được tỉnh đăng cai tổ chức thành công.
2.2. Giáo dục và Đào tạo tiếp tục được quan tâm. Tỉnh đã ban hành nhiều nghị quyết, đề án, kế hoạch quan trọng, triển khai đồng bộ các nhiệm vụ theo Nghị quyết số 71-NQ/TW và các chương trình phát triển giáo dục của Trung ương, của tỉnh. Mạng lưới cơ sở giao dục và đào tạo tiếp tục được phát triển, tỷ lệ kiên cố hóa trường, lớp học đạt trên 90%; tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia đạt 89,6%. Đội ngũ giáo viên, nhân viên trường học được kiện toàn (tỉnh đã tuyển bổ sung 1.363 giáo viên, nhân viên trường học), toàn tỉnh có 98% công chức, nhà giáo đạt chuẩn trình độ đào tạo, trên 30% có trình độ trên chuẩn. Chất lượng giáo dục tiếp tục được nâng lên. Giáo dục mũi nhọn tiếp tục khẳng định vị thế của tỉnh, tỷ lệ học sinh đoạt giải trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia năm học 2025-2026 là 83,88%, đứng thứ 3/34 tỉnh, thành phố cả về số lượng và chất lượng giải; đặc biệt tỉnh có 2 học sinh được chọn tham dự các kỳ thi Olympic quốc tế và khu vực. Giáo dục thường xuyên đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người dân; từng bước chuyển trọng tâm từ dạy văn hóa sang tổ chức các khóa học ngắn hạn, bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học, kỹ năng sống, khởi nghiệp và đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học tiếp tục được quan tâm chỉ đạo; quy mô đào tạo toàn tỉnh đạt 92.807 học viên, tập trung vào các nhóm ngành theo định hướng phát triển của tỉnh; các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong thực tập và giải quyết việc làm, mở rộng hợp tác, tăng cường giao lưu, kết nối với các tổ chức giáo dục, cơ quan đại diện và trường đại học nước ngoài (Trung Quốc, Hoa Kỳ, Đài Loan và Pháp); chất lượng và hiệu quả đào tạo từng bước được nâng lên, chuyển dần từ đào tạo theo “cung” sang “cầu”.
2.3. Chất lượng dịch vụ y tế, khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân tiếp tục chuyển biến tích cực. Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân được cụ thể hóa bằng các chương trình, đề án, kế hoạch. Các biện pháp phòng, chống dịch bệnh được triển khai đồng bộ, hiệu quả, trên địa bàn tỉnh không xảy ra dịch lớn, chỉ ghi nhận một số bệnh truyền nhiễm như cúm, ho gà, quai bị, sởi, tay chân miệng. Chương trình tiêm chủng mở rộng được duy trì ổn định, thực hiện đúng quy định về an toàn tiêm chủng. Chất lượng khám, chữa bệnh tiếp tục được nâng lên, trong đó Bệnh viện Đa khoa tỉnh đã thực hiện được nhiều dịch vụ kỹ thuật cao, chuyên sâu; công tác cải tiến chất lượng bệnh viện được đẩy mạnh; nhiều cơ sở y tế triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bệnh viện, quản lý khám chữa bệnh và thanh toán viện phí. Việc thực hiện quy tắc ứng xử, đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của cán bộ y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh tiếp tục được duy trì và nâng cao. Tỷ lệ giường bệnh/vạn dân đạt 47 giường (mục tiêu 44,3 giường); công suất sử dụng giường bệnh trung bình đạt 73%; số bác sỹ/vạn dân đạt 14 bác sỹ (Mục tiêu: 13,9 bác sỹ); tỷ lệ dân số tham gia BHYT ước đạt 93,6% đạt 98,10% kế hoạch, tăng 6,38% so với cùng kỳ năm 2025. Công tác kiểm tra, giám sát chất lượng thuốc, mỹ phẩm được tăng cường, kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Công tác dân số, an toàn thực phẩm, dược, trang thiết bị y tế được duy trì thực hiện.
2.4. Công tác lao động, việc làm thường xuyên được quan tâm, an sinh xã hội được đảm bảo. Toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 36,8 nghìn người tăng 0,5% so với cùng kỳ, đạt 71,5% kế hoạch năm. Các chính sách về lao động, tiền lượng, BHXH, công tác an toàn, vệ sinh lao động đối với người lao động cơ bản được bảo đảm, đang triển khai xây dựng Nghị quyết của HĐND tỉnh quy định chính sách hỗ trợ bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026 - 2030. Ước thực hiện 6 tháng đầu năm 2026, tỷ lệ bao phủ BHXH trên lực lượng lao động trong độ tuổi đạt 39,7%, tăng 13,8% so với cùng kỳ, đạt 100,94% kế hoạch năm. Tỷ lệ hộ nghèo hiện còn 2,68% (theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2025). Công tác an sinh xã hội được quan tâm, chế độ, chính sách đối với Người có công được đảm bảo.
2.5. Công tác Dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng được tăng cường quan tâm. Tình hình vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi và tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh ổn định. Các chương trình, dự án, chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được tập trung chỉ đạo, đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân nguồn vốn. Kế hoạch thực hiện Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2026-2030 và danh sách thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thôn đặc biệt khó khăn, xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xã khu vực I, II, III giai đoạn 2026-2030; danh sách các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù được ban hành làm cơ sở để xây dựng các chính sách cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của tỉnh. Chính sách đặc thù phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc Mông 02 xã Hang Kia, Pà Cò huyện Mai Châu cũ (nay là xã Pà Cò) được thực hiện tốt, đã nghiệm thu, bàn giao đưa vào sử dụng và thực hiện thanh toán nguồn vốn 08 công trình phục vụ đồng báo dân tộc. Việc triển khai rà soát thực trạng, xác định nhu cầu đầu tư hỗ trợ thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I được triển khai hiệu quả, đảm bảo việc xác định nhu cầu về nguồn vốn, nội dung, đối tượng hỗ trợ đảm bảo phù hợp, sát với thực tiễn triển khai cho Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn mới. Việc triển khai, thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo được quan tâm; tỉnh đã ban hành kế hoạch thực hiện Kết luận của Ban Bí thư Trung ương Đảng về chủ trương công tác đối với Công giáo Việt Nam giai đoạn 2026-2034; chỉ đạo công tác đối với Đạo Tin lành trong tình hình mới; công tác lãnh đạo đối với các hiện tượng tín ngưỡng, tôn giáo mới. Việc tiếp nhận, giải quyết các thủ tục hành chính đảm bảo theo quy định; giải quyết đơn thư và tuyên truyền, vận động chức sắc, chức việc, tín đồ Phật giáo, người thực hành tín ngưỡng được thực hiện hiệu quả, không để phát sinh, hình thành điểm nóng phức tạp liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn. Tổ chức nhiều đoàn công tác thăm hỏi, chúc mừng, tặng quà động viên người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, chức sắc, chức việc tôn giáo tiêu biểu nhân dịp Tết nguyên đán, lễ trọng.
3. Phát triển Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia tiếp tục được lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện toàn diện; tạo chuyển biến mạnh mẽ, tích cực về tư duy và phương pháp tổ chức thực hiện, từ cách “Làm theo kế hoạch” sang “Làm theo mục tiêu và sản phẩm cụ thể, hiệu quả thực chất”, từ “Chuyển báo cáo tiến độ” sang “Đánh giá bằng hiệu quả thực tế”. Chuyển đổi số đạt được nhiều kết quả tích cực, Hệ thống giám sát, điều hành tăng trưởng dựa trên nền tảng dữ liệu số theo thời gian thực được triển khai phục vụ đắc lực cho công tác điều hành của cấp ủy, chính quyền; tỷ lệ xử lý văn bản toàn trình trên Hệ thống điều hành tác nghiệp đứng đầu cả nước; dữ liệu từng bước được làm sạch, kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia, góp phần nâng cao hiệu quả chỉ đạo, điều hành và cung cấp dịch vụ cho người dân, doanh nghiệp. Công tác đào tạo, bồi dưỡng được triển khai linh hoạt, đa dạng với các hình thức đào tạo trực tuyến trên các hệ thống MOOC, BCANet và các nền tảng đào tạo trực tuyến chuyên ngành (“binhdanhocvuso.gov.vn”; “Bình dân học vụ số Công an nhân dân”. Phú Thọ thuộc nhóm địa phương dẫn đầu cả nước trên Hệ thống giám sát của Trung ương, hoàn thành các nhiệm vụ được giao.
Hạ tầng số tiếp tục được đầu tư, tạo nền tảng quan trọng cho phát triển kinh tế số, xã hội số và các ứng dụng kết nối thông minh: 100% khu công nghiệp, đô thị trung tâm được phủ sóng 5G (số lượng hạ tầng tăng gấp 7,1 lần so với 2025); tỷ lệ phủ sóng 5G đạt 61% dân số, vượt 1,67% chỉ tiêu kế hoạch năm 2026. Quy mô kinh tế số đạt 22,71% GRDP, đứng thứ 3 toàn quốc; kinh tế số tiếp tục được xác định là động lực tăng trưởng mới của tỉnh với sự đóng góp quan trọng từ ngành công nghiệp điện tử, công nghệ cao, thương mại điện tử. Phong trào “Bình dân học vụ số” được triển khai sâu rộng với nhiều mô hình hiệu quả như : “Tổ công nghệ số cộng đồng”, “Gia đình số”, “Chợ số - Nông thôn số”, “Đại sứ số”, "Làng số", "Chợ phụ nữ Online", góp phần nâng cao kỹ năng số, từng bước hình thành xã hội số trên địa bàn tỉnh.
Hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng đi vào thực chất, gắn với yêu cầu phát triển của địa phương. Phú Thọ là một trong những địa phương tiên phong áp dụng Hệ thống quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo thời gian thực của Bộ Khoa học và Công nghệ; tổ chức ký kết chương trình phối hợp giữa tỉnh Phú Thọ với Bộ Khoa học và Công nghệ và Đại học Quốc gia Hà Nội. Hoạt động của các doanh nghiệp KH&CN, doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ chiến lược tiếp tục phát triển ổn định, đóng góp tích cực vào tăng trưởng GRDP và nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh, với tổng doanh thu đạt trên 50.000 tỷ đồng. Hoạt động sở hữu trí tuệ, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, quản lý an toàn bức xạ hạt nhân và tiêu chuẩn, đo lường chất lượng được tăng cường mạnh mẽ, tập trung chỉ đạo thực hiện quyết liệt các giải pháp đấu tranh, ngăn chặn, xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo Công điện số 38/CĐ-TTg ngày 05/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ; kịp thời giải quyết các kiến nghị, phản ánh của công dân, góp phần bảo đảm môi trường sản xuất, kinh doanh minh bạch và lành mạnh.
4. Quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường
Quản lý nhà nước về đất đai tiếp tục được quan tâm chỉ đạo, triển khai đồng bộ và bám sát các quy định của pháp luật. Đã tham mưu Tỉnh ủy đã ban hành 02 Chỉ thị, đang xem xét ban hành 01 Chỉ thị, đồng thời, UBND tỉnh ban hành 01 chỉ thị và 03 quyết định quy phạm pháp luật triển khai Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội;
Tỉnh đã tích cực chỉ đạo triển khai công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính, hồ sơ địa chính và hoàn thành cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai trên địa bàn tỉnh, đã thành lập tổ công tác, huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc, thống nhất nền tảng phần mềm và quy trình quản lý dữ liệu; UBND tỉnh đã ban hành và triển khai quyết liệt Kế hoạch số 117/KH-UBND ngày 07/04/2026 về tập trung đẩy nhanh tiến độ đo đạc lập bản đồ địa chính; đăng ký đất đai; lập hồ sơ địa chính và xây dựng CSDL quốc gia về đất đai theo Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 13/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ (năm 2026 và cập nhật thường xuyên, liên tục các năm tiếp theo); phê duyệt Đề án đo đạc, đo đạc chỉnh lý, đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2026 - 2030 và các năm tiếp theo và phát động phong trào 180 ngày đêm cập nhật dữ liệu đất đai, thường xuyên đôn đốc, nhắc nhở các xã có kết quả thấp trong xây dựng cơ sở dữ liệu.
6 tháng đầu năm tỉnh đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất và giao đất, cho thuê đất để thực hiện 65 dự án. Ban hành quyết định phê duyệt giá đất cụ thể cho 11 dự án với số tiền hơn 1 nghìn tỷ đồng; đang xem xét ban hành quyết định giá đất 03 dự án, thẩm định giá đất 10 dự án, dự thảo phương án giá đất 09 dự án. Hoàn thiện hồ sơ “điều chỉnh Đề án tăng cường quản lý đất có nguồn gốc từ nông lâm trường trên địa bàn tỉnh Phú Thọ”… Các hoạt động quản lý khoáng sản, tài nguyên nước được tăng cường; tỉnh đã tổ chức đấu giá thành công 09 mỏ đá tại khu vực Hòa Bình; cấp 03 giấy phép thăm dò khoáng sản; 12 giấy phép khai thác khoáng sản, 26 giấy xác nhận thu hồi khoáng sản; cấp 23 giấy phép khai thác tài nguyên nước và ban hành 12 quyết định phê duyệt tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước cho tổ chức, cá nhân. Công tác bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu được triển khai quyết liệt, đạt nhiều kết quả tích cực. Các dự án, cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao và các nguồn thải lớn tại khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề được kiểm soát, giám sát chặt chẽ; công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt được duy trì hiệu quả, không để xảy ra tình trạng ùn ứ rác thải hoặc phát sinh các điểm ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Các chỉ tiêu môi trường cơ bản đều đạt kế hoạch đề ra.
5. Công tác cải cách hành chính, xây dựng chính quyền
Công tác cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính được quan tâm chỉ đạo quyết liệt. Thường xuyên tăng cường kiểm tra, đôn đốc tiến độ xử lý hồ sơ nhất là đối với những lĩnh vực có tỷ lệ chậm muộn cao. Nâng cao tỷ lệ số hóa hồ sơ, giải quyết thủ tục hành chính; đảm bảo thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công thông suốt, hiệu quả. Tập trung triển khai một số nhiệm vụ trọng tâm thực hiện Đề án 06, Nghị quyết 57-NQ/TW đối với xây dựng cơ sở dữ liệu và triển khai Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tập trung của cấp Bộ. Phân cấp, phân quyền trong giải quyết thủ tục hành chính tiếp tục được quan tâm, thực hiện đồng bộ. Tiếp tục vận hành ổn định, hiệu quả Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh, cấp xã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp trong thực hiện thủ tục hành chính. Tỉnh đã phát động "Chiến dịch cao điểm 45 ngày" và giải quyết dứt điểm khoảng 99,4% hồ sơ quá hạn, tồn đọng trước đó tại các sở, ngành (đặc biệt là lĩnh vực đất đai và nông nghiệp). Đặc biệt, tỉnh đã triển khai thí điểm cơ chế “Luồng xanh 24 giờ” và “Luồng xanh 50%” trong giải quyết thủ tục hành chính đối với các dự án trọng điểm, phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số.
Các cấp chính quyền trong tỉnh tiếp tục hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Tổ chức thành công cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI và Đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, tỷ lệ cử tri tham gia bầu cử của tỉnh đạt 99,91%. Công tác quản lý, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức luôn được quan tâm, bám sát yêu cầu thực tiễn, đáp ứng nhiệm vụ vận hành chính quyền địa phương 2 cấp. Tiếp tục rà soát, kịp thời bổ sung, tăng cường đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cho các xã, phường. Ngoài ra, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 114/KH-UBND ngày 06/4/2026 triển khai thực hiện đánh giá, xếp loại chất lượng (theo KPI) đối với cơ quan hành chính và công chức trên địa bàn tỉnh.
Công tác xây dựng và kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) được thực hiện đảm bảo về chất lượng. Tỉnh đã tập trung thực hiện tổng rà soát hệ thống văn bản QPPL sau khi hợp nhất đơn vị hành chính nhằm đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ; cập nhật kịp thời 33 văn bản lên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. Tiếp tục đổi mới, đa dạng các hình thức, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật; tổ chức 02 cuộc thi trực tuyến với tổng số trên 25 nghìn người tham dự; biên tập 06 file âm thanh tuyên truyền pháp luật cung cấp cho hệ thống truyền thanh ở cơ sở; biên tập, in ấn cuốn tài liệu các luật mới được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10. Quản lý nhà nước trong các lĩnh vực hộ tịch, quốc tịch, nuôi con nuôi tiếp tục được tăng cường, nâng cao hiệu lực, hiệu quả. Công tác trợ giúp pháp lý được thực hiện bài bản, chất lượng dịch vụ tiếp tục được nâng cao.
Công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư và giải quyết khiếu nại, tố cáo được được chú trọng. Các cơ quan, đơn vị thuộc tỉnh đã tiếp 7.445 lượt công dân, với 8.362 người đến cơ quan hành chính nhà nước để khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh với 6.292 số vụ việc và tiếp nhận, xử lý 9.436 đơn. Thủ trưởng các cơ quan hành chính các cấp đã trực tiếp tiếp công dân tổng cộng 2.138 lượt với 2.491 người được tiếp, góp phần đối thoại trực tiếp, làm giảm tính chất gay gắt của nhiều vụ việc ngay từ cơ sở. Công tác thanh tra được thực hiện có trọng tâm, trọng điểm; chất lượng các cuộc thanh tra từng bước được nâng cao, đảm bảo khách quan, đúng pháp luật; tính đến thời điểm báo cáo, đã triển khai 58 cuộc thanh tra, trong đó 29 cuộc đã ban hành kết luận thanh tra; kiến nghị xử lý vi phạm về kinh tế 17,9 tỷ đồng; thực hiện đôn đốc thực hiện 165 kết luận thanh tra. Công tác kiểm tra, giám sát tiếp tục được các cấp, các ngành thực hiện nghiêm túc, bám sát các chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh. Các biện pháp phòng ngừa tham nhũng (như công khai, minh bạch về chế độ, định mức, tiêu chuẩn, công tác cán bộ, minh bạch tài sản, thu nhập...) được các đơn vị chủ động hướng dẫn, triển khai thực hiện góp phần xây dựng môi trường đầu tư thuận lợi, củng cố niềm tin của người dân, doanh nghiệp.
6. Công tác bảo đảm quốc phòng, an ninh và công tác đối ngoại
Lực lượng vũ trang tỉnh hoàn thành tốt các nhiệm vụ quân sự, quốc phòng địa phương; góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc. Chỉ đạo diễn tập tác chiến xã Đồng Lương trong khu vực phòng thủ làm điểm cho Quân khu 2, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Hoàn thành 100% chỉ tiêu tuyển quân năm 2026, bàn giao 6.095 công dân cho 33 đơn vị nhận quân. Thực hiện hiệu quả nhiệm vụ phòng thủ dân sự. Duy trì nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu; bảo đảm an ninh, an toàn tuyệt đối các ngày lễ, tết, sự kiện chính trị (12 đợt bảo vệ). Củng cố, kiện toàn, ổn định tổ chức biên chế, quân số và bảo đảm lực lượng chính quy về công tác tại các Ban CHQS cấp xã. Tổ chức hiệu quả bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho các đối tượng. Bảo đảm tốt công tác chính sách cho các đối tượng; thực hiện hiệu quả “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh tìm kiếm quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”…
Thường xuyên, chủ động nắm chắc tình hình, bảo đảm tuyệt đối an ninh, an toàn trong thời gian diễn ra Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 và Cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Chú trọng xây dựng lực lượng công an nhân dân thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Quyết liệt, đồng bộ thực hiện các giải pháp phòng, chống tội phạm; tích cực đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội. Thu nhận trên 331.000 hồ sơ cấp thẻ căn cước và 250.000 hồ sơ định danh điện tử theo Đề án 06. Tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, kiềm chế tại nạn giao thông. Công tác phòng chống tội phạm được tăng cường, trong 6 tháng đầu năm 2026, Công an tỉnh đã triệt phá một số vụ án lớn, trọng điểm; công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ được đẩy mạnh; duy trì lực lượng, phương tiện sẵn sàng ứng trực.
Hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế tiếp tục được mở rộng và đi vào chiều sâu theo Chương trình hành động số 10-CTr/TU và Nghị quyết số 59-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới trên địa bàn. Các hoạt động thông tin đối ngoại được triển khai với nhiều hình thức đa dạng, qua đó quảng bá về tiềm năng, thế mạnh, các chính sách thu hút đầu tư, văn hóa con người Đất Tổ, góp phần nâng cao vị thế, hình ảnh của tỉnh trên trường quốc tế. Trong 6 tháng đầu năm, tỉnh đã tiến hành ký kết 06 bản ghi nhớ hợp tác mới với các địa phương, đối tác quốc tế (Lào, Trung Quốc, Hàn Quốc) và đón tiếp trọng thị 03 đoàn khách quốc tế cấp cao. Công tác ngoại giao văn hóa ghi nhận bước tiến mới với việc phê duyệt Đề án tổ chức "Ngày hội văn hóa Phú Thọ" ở nước ngoài giai đoạn 2026 - 2030. Hoạt động vận động viện trợ phi chính phủ nước ngoài duy trì hiệu quả. Tích cực phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan xử lý bảo hộ đối với công dân của tỉnh ở nước ngoài.
II. Một số quy định, chính sách có hiệu lực từ tháng 7/2026
1. Nghị định số 161/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 của Chính phủ quy định mức lương cơ sở và chế độ tiền thưởng đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang
Theo đó, mức lương cơ sở tăng từ 2,34 triệu đồng/tháng lên 2,53 triệu đồng/tháng, áp dụng từ ngày 1/7/2026, với người hưởng lương, phụ cấp áp dụng mức lương cơ sở bao gồm: Cán bộ, công chức từ Trung ương đến cấp xã quy định tại Điều 1 Luật Cán bộ, công chức; Viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập quy định tại Điều 1 Luật Viên chức; Người làm các công việc theo chế độ hợp đồng lao động trong cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập quy định tại Nghị định của Chính phủ thuộc trường hợp được áp dụng hoặc có thỏa thuận trong hợp đồng lao động áp dụng xếp lương theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang; Người làm việc trong chỉ tiêu biên chế tại các hội được ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí hoạt động theo quy định tại Nghị định số 126/2024/NĐ-CP ngày 8/10/2024 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội.
Sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng, công chức quốc phòng và lao động hợp đồng thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; Sỹ quan, hạ sỹ quan hưởng lương, công nhân công an và lao động hợp đồng thuộc Công an nhân dân; Người làm việc trong tổ chức cơ yếu; Hạ sỹ quan và binh sỹ thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; hạ sỹ quan và chiến sỹ nghĩa vụ thuộc Công an nhân dân; Người hoạt động không chuyên trách ở thôn và tổ dân phố.
Từ việc tăng mức tiền lương cơ sở, nhiều trợ cấp an sinh cũng được tăng thêm, đảm bảo cuộc sống và chất lượng cuộc sống của người lao động như trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng,...
Chính phủ cũng đã ban hành nghị định 162/2026/NĐ-CP quy định điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng. Theo khoản 1 điều 2 nghị định này, từ ngày 1/7 người đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng sẽ được điều chỉnh tăng thêm 8% trên mức hưởng của tháng 6/2026. Khoản 2 điều 2 nghị định 162/2026/NĐ-CP quy định đối với các trường hợp nghỉ hưởng lương hưu, trợ cấp trước ngày 1/1/1995, sau khi tăng 8% mà mức hưởng vẫn thấp hơn 3.800.000 đồng/tháng thì tiếp tục được điều chỉnh tăng thêm.
Cụ thể, người có mức hưởng bằng hoặc thấp hơn 3.500.000 đồng/tháng sẽ được tăng thêm 300.000 đồng/người/tháng; trường hợp có mức hưởng trên 3.500.000 đồng/tháng nhưng thấp hơn 3.800.000 đồng/tháng thì được nâng lên bằng 3.800.000 đồng/tháng. Khoản 3 điều 2 nghị định này cũng nêu rõ mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng sau điều chỉnh sẽ là căn cứ để tiếp tục tính các lần điều chỉnh tiếp theo theo quy định.
Tại cuộc tiếp xúc cử tri với người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI, nhiệm kỳ 2026 - 2031, tại đơn vị bầu cử số 01, tỉnh Lào Cai, vào tháng 3/2026, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà cho biết cải cách tiền lương không chỉ áp dụng trong khu vực công mà còn liên quan đến người lao động trong khu vực tư nhân. Việc cải cách phải được thực hiện theo lộ trình phù hợp với điều kiện kinh tế, nguồn lực tài chính và khả năng ngân sách của đất nước.
Theo Phó Thủ tướng, nếu tiếp tục cải cách, tinh gọn tổ chức bộ máy, đồng thời đổi mới mô hình tăng trưởng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở mức cao hơn, nguồn thu ngân sách sẽ được cải thiện, tạo điều kiện cho cải cách tiền lương trong thời gian tới. Vì vậy, việc điều chỉnh tiền lương thời gian qua được thực hiện theo lộ trình thận trọng, từng bước, chắc chắn, hiệu quả và phù hợp với khả năng của nền kinh tế. Đến nay, mức lương cơ sở của cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang đã tăng khoảng 58%.
Bên cạnh đó, Chính phủ cũng tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện cơ chế tiền thưởng gắn với kết quả công việc, tạo nguồn để các cơ quan, đơn vị đánh giá, phân loại theo KPI hiệu quả công việc, bảo đảm trả lương thưởng đúng người, đúng việc và nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy.
2. Nghị định số 182/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với nhà giáo, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục và nhân sự hỗ trợ giáo dục công tác trong các cơ sở giáo dục công lập
Nghị định được ban hành nhằm cụ thể hóa Luật Nhà giáo năm 2025; góp phần hoàn thiện chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục và nhân sự hỗ trợ giáo dục; đồng thời bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống chính sách phụ cấp ưu đãi theo nghề trong ngành Giáo dục.
Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 7/7/2026. Các mức phụ cấp ưu đãi theo nghề được thực hiện từ ngày 01/01/2026.Nghị định số 182/2026/NĐ-CP quy định chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với nhà giáo, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục và nhân sự hỗ trợ giáo dục công tác trong các cơ sở giáo dục công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, bao gồm cả người đang trong thời gian tập sự, thử việc hoặc hợp đồng áp dụng tiền lương theo bảng lương của viên chức.
Theo lộ trình thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, để phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, Nghị định đã quy định các mức phụ cấp ưu đãi theo nghề từ 20% đến 80%, được xác định theo đối tượng thụ hưởng, cấp học, loại hình cơ sở giáo dục, tính chất công việc và điều kiện địa bàn công tác.
Đặc biệt, lần đầu tiên nhân sự hỗ trợ giáo dục trong các cơ sở giáo dục công lập được đưa vào diện hưởng phụ cấp ưu đãi theo nghề với mức phụ cấp 20%. Đây là điểm mới đáng chú ý của Nghị định, thể hiện sự ghi nhận đối với đội ngũ nhân sự tham gia hỗ trợ hoạt động giáo dục trong nhà trường.
Nghị định cũng điều chỉnh mức phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với một số nhóm nhà giáo và cơ sở giáo dục đặc thù so với các quy định trước đây. Trong đó, có nhóm được điều chỉnh từ 35% lên 45%, từ 50% lên 60% hoặc từ 70% lên 80%.
3. Nghị định số 174/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, giao dịch điện tử và công nghệ thông tin
Nghị định này gồm 8 chương, 117 điều quy định hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền lập biên bản và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực: bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, giao dịch điện tử, công nghệ thông tin và mật mã dân sự (thuộc lĩnh vực an ninh mạng).
Hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước khác liên quan đến các lĩnh vực nêu trên không được quy định tại Nghị định này thì áp dụng quy định tại các nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đó để xử phạt.
Theo quy định trong Nghị định, phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: Cung cấp, chia sẻ thông tin xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; Tiết lộ thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước, bí mật đời tư của cá nhân và bí mật khác mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; Cung cấp, chia sẻ thông tin sai sự thật gây hoang mang trong Nhân dân, gây thiệt hại cho hoạt động kinh tế-xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Về biện pháp khắc phục hậu quả, Nghị định quy định: Buộc gỡ bỏ thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn hoặc thông tin vi phạm pháp luật do thực hiện hành vi vi phạm; Buộc khóa tài khoản, trang cộng đồng, nhóm cộng đồng hoặc kênh nội dung do thực hiện hành vi vi phạm.
4. Nghị định số 237/2026/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Báo chí
Theo Nghị định, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp muốn được cấp giấy phép hoạt động báo chí phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại khoản 3 Điều 17 Luật số 126/2025/QH15. Đồng thời, các tổ chức này phải có thời gian hoạt động tối thiểu 3 năm và có ít nhất 150 hội viên chính thức.
Về nhân sự, cơ quan báo chí phải có tối thiểu 7 người làm việc, trong đó ít nhất 3 người được cấp thẻ nhà báo.
Về cơ sở vật chất, phải có trụ sở ổn định từ 2 năm trở lên do cơ quan chủ quản bố trí hoặc thuê, bảo đảm điều kiện làm việc theo đề án xin cấp phép.
Về tài chính, cơ quan chủ quản phải xây dựng đề án tài chính, bảo đảm có nguồn thu hợp pháp để chi trả tiền lương, chế độ bảo hiểm cho nhân sự; đồng thời bảo đảm kinh phí in ấn đối với báo in hoặc chi phí thuê đường truyền, máy chủ đối với báo chí điện tử trong thời gian tối thiểu 2 năm, phù hợp với quy mô hoạt động.
Nghị định cũng quy định cụ thể các trường hợp cơ quan báo chí bị thu hồi giấy phép hoạt động. Theo đó, cơ quan báo chí đã được cấp phép nhưng không triển khai hoạt động sẽ bị thu hồi giấy phép nếu sau 3 tháng đối với báo in, báo chí điện tử hoặc sau 9 tháng đối với phát thanh, truyền hình và tạp chí in kể từ ngày giấy phép có hiệu lực mà không được thành lập hoặc không có sản phẩm báo chí.
Trường hợp được cấp phép xuất bản thêm ấn phẩm báo, phụ trương, chuyên trang báo chí điện tử hoặc ấn phẩm tạp chí in nhưng không có sản phẩm báo chí sau thời hạn theo quy định cũng sẽ bị thu hồi giấy phép.
Bên cạnh đó, cơ quan báo chí tạm ngừng hoạt động quá 3 tháng đối với báo in, báo chí điện tử hoặc quá 9 tháng đối với phát thanh, truyền hình, tạp chí in cũng thuộc diện bị thu hồi giấy phép.
Nghị định cũng quy định thu hồi giấy phép đối với cơ quan báo chí không còn đáp ứng điều kiện hoạt động, như: trong thời hạn 6 tháng không bổ nhiệm được người đứng đầu đủ điều kiện theo quy định; chậm đóng bảo hiểm xã hội cho trên 50% người lao động quá 12 tháng; hoặc chậm trả lương cho trên 50% người lao động quá 12 tháng kể từ thời điểm có phản ánh của người lao động.
Đáng chú ý, cơ quan báo chí bị tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động báo chí có thời hạn, nếu trong vòng 18 tháng kể từ ngày bị xử lý tiếp tục vi phạm và bị tước quyền sử dụng giấy phép thì sẽ bị thu hồi giấy phép hoạt động báo chí.
Nghị định cũng quy định việc thu hồi giấy phép theo đề nghị của cơ quan chủ quản hoặc cơ quan báo chí khi không còn nhu cầu hoạt động. Văn bản đề nghị thu hồi phải được gửi chậm nhất 30 ngày trước thời điểm dự kiến chấm dứt hoạt động.
Đối với cơ quan báo chí bị thu hồi giấy phép hoạt động báo in, báo chí điện tử, phát thanh hoặc truyền hình, toàn bộ các giấy phép liên quan cũng đồng thời hết hiệu lực. Việc cấp lại giấy phép sau khi bị thu hồi được thực hiện theo quy định của Luật số 126/2025/QH15 và các điều kiện của Nghị định.
Một điểm mới đáng chú ý của Nghị định là quy định cơ quan báo chí khi sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo trong hoạt động thu thập, sản xuất, biên tập, phân phối nội dung thông tin và các hoạt động báo chí khác phải bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật về báo chí, pháp luật về trí tuệ nhân tạo và các quy định có liên quan.
Cơ quan báo chí có trách nhiệm kiểm chứng, rà soát và chịu trách nhiệm về tính xác thực, tính hợp pháp của nội dung do hệ thống trí tuệ nhân tạo tạo ra hoặc hỗ trợ tạo ra.
Cơ quan báo chí phải thực hiện thông báo và gắn nhãn rõ ràng, tại vị trí dễ nhận biết đối với văn bản, hình ảnh, âm thanh, video được tạo ra hoặc chỉnh sửa bằng hệ thống trí tuệ nhân tạo có khả năng gây nhầm lẫn về tính xác thực của sự kiện, nhân vật; việc thông báo và gắn nhãn được thực hiện theo quy định của pháp luật về trí tuệ nhân tạo.
Cơ quan báo chí không được sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo để tạo ra hoặc lan truyền nội dung giả mạo, sai sự thật, xuyên tạc, hoặc nội dung có khả năng gây tổn hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Cơ quan báo chí phải thiết lập và duy trì quy trình thẩm định, biên tập, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm cá nhân đối với việc sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo; lưu giữ nhật ký hoạt động và hồ sơ kỹ thuật phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.
Cơ quan báo chí có trách nhiệm cung cấp nội dung thông tin sử dụng trí tuệ nhân tạo theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.
Nhà nước khuyến khích các cơ quan báo chí nghiên cứu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động thu thập, sản xuất, phân tích và phân phối nội dung thông tin nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động báo chí, trên cơ sở bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật và trách nhiệm biên tập của cơ quan báo chí.
Nghị định số 237/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026.
5. Nghị định số 242/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Báo chí về quản lý hoạt động phát thanh, truyền hình và dịch vụ phát thanh, truyền hình
Ngày 26/6/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 242/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Báo chí về quản lý hoạt động phát thanh, truyền hình và dịch vụ phát thanh, truyền hình. Nghị định được ban hành nhằm thiết lập một hành lang pháp lý chặt chẽ, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước cũng như xu hướng phát triển mạnh mẽ của công nghệ truyền thông hiện đại.
Nội dung trọng tâm của Nghị định tập trung làm rõ phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng trong toàn bộ hoạt động từ sản xuất, biên tập đến cung cấp dịch vụ. Phạm vi điều chỉnh bao gồm việc cấp và thu hồi các loại giấy phép sản xuất kênh chương trình trong nước, giấy phép biên tập kênh chương trình nước ngoài, chế độ lưu trữ và lưu chiểu điện tử, cùng các điều kiện đăng ký cung cấp kênh chương trình nước ngoài và dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền.
Đối tượng áp dụng là các cơ quan chủ quản báo chí, các đài phát thanh và truyền hình cấp quốc gia và địa phương, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia quản lý, cung cấp hoặc sử dụng dịch vụ tại Việt Nam.
Trong công tác quản lý hoạt động phát thanh và truyền hình, nghị định phân định rõ thẩm quyền và điều kiện hoạt động của các cơ quan báo chí. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được giao thẩm quyền cấp, sửa đổi, bổ sung hoặc thu hồi giấy phép sản xuất kênh chương trình trong nước và giấy phép biên tập kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ trả tiền. Đối với việc biên tập kênh nước ngoài, cơ quan báo chí phải đảm bảo các tiêu chuẩn khắt khe về nhân sự chuyên môn có thẻ nhà báo, năng lực ngoại ngữ từ bậc 4 trở lên, năng lực kỹ thuật kiểm soát thời gian chậm và năng lực tài chính.
Bên cạnh đó, nhằm siết chặt kỷ cương, nghị định quy định rõ các trường hợp sẽ bị thu hồi giấy phép như không phát sóng sau 6 tháng kể từ khi được cấp phép, tạm ngừng hoạt động quá thời hạn quy định, hoặc vi phạm thông tin sai sự thật gây hậu quả nghiêm trọng. Song song đó, trách nhiệm lưu chiểu điện tử cũng được nhấn mạnh khi cơ quan báo chí phải lưu trữ nội dung phát sóng trong 30 ngày và phối hợp kết nối tín hiệu liên tục với hệ thống lưu chiểu của cơ quan quản lý.
Đối với việc quản lý dịch vụ phát thanh và truyền hình, Chính phủ khẳng định nguyên tắc phát triển thị trường bền vững, cạnh tranh bình đẳng và ưu tiên phủ sóng quảng bá tại các vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo. Các đơn vị cung cấp dịch vụ trả tiền bắt buộc phải truyền dẫn nguyên vẹn các kênh chương trình phục vụ nhiệm vụ chính trị, thông tin tuyên truyền thiết yếu của quốc gia và địa phương. Tỷ lệ các kênh chương trình nước ngoài trên hệ thống trả tiền được khống chế không vượt quá 30% tổng số kênh cung cấp. Riêng đối với các loại hình nội dung theo yêu cầu như phim ảnh, chương trình giải trí, thể thao, các đơn vị phải thực hiện biên tập, phân loại, hiển thị cảnh báo theo quy định, đồng thời chịu trách nhiệm kiểm soát chặt chẽ các tính năng tương tác, bình luận của người dùng. Hệ thống nhận diện thương hiệu của các nhà cung cấp cũng được chuẩn hóa thông qua quy định về vị trí đặt biểu tượng ở các góc màn hình và không được phép chèn đè lên nội dung cảnh báo hay kênh thiết yếu.
Một trong những quy định quan trọng khác của nghị định là việc đơn giản hóa và minh bạch hóa các thủ tục hành chính liên quan đến cấp phép cung cấp dịch vụ trả tiền và đăng ký thu tín hiệu vệ tinh trực tiếp. Doanh nghiệp xin cấp phép phải chuẩn bị hồ sơ và đề án chi tiết chứng minh năng lực hạ tầng viễn thông, phương án kỹ thuật quản lý tập trung và kế hoạch kinh doanh trong 2 năm đầu tiên. Quy trình tiếp nhận hồ sơ được đa dạng hóa qua hình thức trực tiếp, bưu chính công ích hoặc trực tuyến qua Cổng dịch vụ công quốc gia với thời hạn giải quyết rõ ràng từ 10 đến 20 ngày làm việc tùy thuộc vào từng loại thủ tục. Đối với hoạt động thu tín hiệu truyền hình nước ngoài trực tiếp từ vệ tinh không qua biên tập, thẩm quyền quản lý và cấp chứng nhận được phân cấp hoàn toàn về cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nhằm tối ưu hóa hiệu quả giám sát tại địa phương. Giấy phép cung cấp dịch vụ có thời hạn hiệu lực tối đa lên đến 10 năm, trong khi giấy chứng nhận đăng ký kênh nước ngoài và giấy chứng nhận thu tín hiệu vệ tinh có thời hạn tối đa là 5 năm, tạo điều kiện ổn định cho các đơn vị chủ động vận hành kinh doanh.
Nghị định số 242/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026 và thay thế toàn bộ các quy định cũ tại Nghị định số 06/2016/NĐ-CP và Nghị định số 71/2022/NĐ-CP.
6. Nghị định số 244/2026/NĐ-CP ngày 26/6/2026 của Chính phủ quy định chi tiết việc phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của các cơ quan hành chính nhà nước
- 5 hình thức phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí, gồm:
Tổ chức họp báo (trực tiếp hoặc trực tuyến).
Đăng tải nội dung phát ngôn và cung cấp thông tin trên Cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử, trang, kênh, tài khoản trên mạng xã hội hoặc nền tảng số chính thức của cơ quan hành chính nhà nước. Trang, kênh, tài khoản trên mạng xã hội chính thức của cơ quan hành chính nhà nước phải được công bố trên Cổng thông tin điện tử hoặc Trang thông tin điện tử của cơ quan hành chính nhà nước.
Phát ngôn trực tiếp hoặc trả lời phỏng vấn báo chí.
Gửi thông cáo báo chí, nội dung trả lời bằng văn bản hoặc qua thư điện tử.
Cung cấp thông tin qua trao đổi trực tiếp hoặc tại các cuộc giao ban báo chí do Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức ở trung ương; Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy, cơ quan chuyên môn về văn hóa thuộc UBND cấp tỉnh và Hội Nhà báo tỉnh, thành phố tổ chức ở địa phương khi được yêu cầu.
- Về cung cấp thông tin định kỳ, Nghị định số 244 nêu rõ:
Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch UBND cấp tỉnh tổ chức cung cấp thông tin cho báo chí theo định kỳ 1 tháng một lần về hoạt động và công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ bằng hình thức họp báo, gửi thông cáo báo chí, trả lời phỏng vấn báo chí và đăng tải trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
Cục Thông tin và Truyền thông Chính phủ có trách nhiệm cập nhật thông tin các quy định hiện hành để cung cấp kịp thời, chính xác thông tin chính thống cho các cơ quan báo chí trong cả nước.
Các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh tổ chức cung cấp thông tin cho báo chí về tình hình hoạt động, kết quả thực hiện nhiệm vụ, các vấn đề được dư luận xã hội quan tâm về lĩnh vực, địa bàn thuộc phạm vi quản lý hằng tháng. Tổ chức họp báo ít nhất 3 tháng một lần để cung cấp thông tin cho báo chí…
Cơ quan hành chính nhà nước tổ chức cung cấp thông tin cho báo chí về tình hình hoạt động, kết quả thực hiện nhiệm vụ, các vấn đề được dư luận xã hội quan tâm về lĩnh vực, địa bàn thuộc phạm vi quản lý trên Cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan theo quy định của Chính phủ về cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan hành chính nhà nước; trang, kênh, tài khoản trên mạng xã hội hoặc nền tảng số chính thức của cơ quan hành chính nhà nước; Cử người phát ngôn cung cấp thông tin tại họp báo của bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh khi có yêu cầu…
- Phát ngôn trong trường hợp đột xuất, bất thường: Điều 7 của Nghị định số 244 cũng quy định phát ngôn trong trường hợp đột xuất, bất thường.
Cụ thể, trong trường hợp xảy ra sự cố mang tính quốc gia liên quan đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe của cộng đồng, trừ trường hợp ban bố tình trạng khẩn cấp, thiết quân luật, giới nghiêm và các trường hợp khác theo quy định của Luật chuyên ngành, Thủ tướng Chính phủ hoặc người phát ngôn của Chính phủ thực hiện phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí ngay sau khi sự cố xảy ra và thường xuyên trong quá trình xử lý sự cố.
Đối với sự cố liên quan đến từ 2 bộ, ngành, tỉnh, thành phố trở lên, người phát ngôn của bộ, cơ quan ngang bộ hoặc UBND cấp tỉnh được Chính phủ giao chủ trì xử lý thống nhất nội dung với các cơ quan liên quan để thực hiện phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí thường xuyên trong quá trình xử lý sự cố.
Khi xảy ra các sự kiện, vấn đề quan trọng có tác động lớn trong xã hội thuộc phạm vi quản lý của cơ quan hành chính nhà nước, trừ các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, chậm nhất là 24 giờ kể từ thời điểm cơ quan hành chính nhà nước tiếp nhận và xử lý vụ việc theo thẩm quyền, người phát ngôn phải thực hiện phát ngôn và cung cấp thông tin ban đầu cho báo chí để kịp thời cảnh báo, định hướng dư luận và hạn chế xảy ra khủng hoảng truyền thông, lan truyền thông tin sai lệch, không chính xác…
- Trách nhiệm của cơ quan báo chí, nhà báo, phóng viên
Cơ quan báo chí, nhà báo, phóng viên có trách nhiệm đăng, phát, phản ánh trung thực, khách quan, đầy đủ nội dung thông tin do người phát ngôn cung cấp, khi chuyển sang ngôn ngữ khác phải đúng thuật ngữ chuyên môn quốc tế và không làm thay đổi bản chất của thông tin gốc; đồng thời phải ghi rõ họ tên người phát ngôn và tên cơ quan hành chính nhà nước.
Cơ quan báo chí đăng, phát đúng nội dung thông tin mà người phát ngôn cung cấp thì không phải chịu trách nhiệm về nội dung thông tin đó.
Cơ quan báo chí phải đăng, phát ý kiến phản hồi của người phát ngôn và thực hiện cải chính, xin lỗi theo quy định pháp luật đối với các nội dung đăng tải không chính xác, sai sự thật.
Nghị định số 244 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026./.